Thứ ba, ngày 16-09-2014
Công cụ làm việc cá nhân


Thông tin giới thiệu về Xin-ga-po và quan hệ với Việt Nam

Lời nói đầu.

Năm 2005, Xin-ga-po kỷ niệm  lần thứ 40  ngày Độc lập. Nhìn lại những năm tháng đã qua, người Xin-ga-po hoàn toàn có đủ l‎ý do để tự hào về những thành tựu mà họ đã đạt được. Những thành tựu này lại càng đáng khâm phục vì Xin-ga-po là một quốc gia ra đời và phát triển trong những điều kiện rất đặc biệt.
Theo Công pháp quốc tế, một quốc gia phải hội tụ đủ ba yếu tố cơ bản : có một vùng lãnh thổ được xác định bằng đường biên giới, có một công đồng dân cư sinh sống và có một cơ cấu chính quyền quản l‎ý  vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư đó. Xét về mặt pháp l‎ý, Xin-ga-po  là một quốc gia vì hội tụ đầy đủ cả ba yếu tố trên.  Nhưng xét về truyền thống và lịch sử, Xin-ga-po chỉ là một hòn đảo dân cư thưa thớt.
Quốc gia thường gắn liền với dân tộc. Khi Xin-ga-po  tách khỏi Ma-lai-xia  để lập quốc gia riêng,  dân cư chỉ là một cộng đồng người nhập cư nhiều sắc tộc và chưa ai có thể nói đó là  dân tộc Xin-ga-po. Thậm chí hiện nay, mọi người vẫn còn nghi ngờ liệu đã hình thành một dân tộc Xin-ga-po chưa ? Còn trên thực tế, không ai phủ định được rằng Xin-ga-po  là một quốc gia với đầy đủ tiêu chí, định chế và chức năng của nó. Điều cần nói chính là những nét đặc thù của quốc gia này. 
Có thể nói Xin-ga-po  là một quốc gia đặc thù theo nhiều nghĩa đầy đủ của từ. Đặc thù về vị trí địa l‎ý, về diện tích, đặc thù về lịch sử, đặc thù về dân cư và đặc thù về thể chế. Trong cộng đồng quốc tế hiện nay, không phải là không có những quốc gia đặc thù như  Xin-ga-po, nhưng không có quốc gia nào  có  những đặc thù như đảo quốc này. Hơn thế nữa, các quốc gia kia thường “an phận ” với những đặc thù của họ. Còn Xin-ga-po  không chấp nhận số mệnh mà tìm  cách “ khắc phục ” những đặc thù bất lợi và phát huy những đặc thù có lợi để  vươn lên trở thành một quốc gia thần kỳ về phát triển. Đây mới chính là đặc thù có một không hai trong  thế giới hiện đại.
Vậy bí quyết thành công của Xin-ga-po  là gì? Xuất phát từ  những đặc thù của đất nước mình, các nhà lãnh đạo đã hoạch định một chiến lược xây dựng và phát triển đất nước rất đặc trưng và đặc sắc. Tư tưởng chỉ đạo của họ là đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược này. Con người quyết định mọi thành bại. Vấn đề là đặt mỗi người vào đúng vị trí của họ, rồi giải phóng và định hướng  họ để  họ có thể lao động  và sáng tạo theo đúng khả năng và sở trường.
Cái thần kỳ của Xin-ga-po không chỉ nằm trong thành quả của phát triển mà ngay cả  trong chính sách xã hội. Đất nước Xin-ga-po vẫn cần tiếp tục phát triển sau 40 năm tồn tại và bí quyết vẫn là sử dụng con người. Muốn vậy, ngay từ đầu cần xây dựng một  xã hội  rộng mở để đón nhận những nhân tài từ các quốc gia khác đến lập nghiệp và sinh sống lâu dài. Bên cạnh đó, người dân Xin-ga-po luôn có lòng bao dung, sẵn sàng mở rộng vòng tay  để cưu mang những người nghèo khó và già cả đã và đang cùng nhau chia sẻ  những thuận lợi cũng như khó khăn trên mảnh đất này.
Chúng tôi  mong muốn cung cấp một số thông tin  cơ bản về đất nước và con người đang sinh sống và lao động trên  đảo quốc Xin-ga-po. Đồng thời qua đây, chúng tôi cũng bày tỏ  suy nghĩ và đánh giá cá nhân  về  những đặc thù và giải pháp mà Xin-ga-po đã tiến hành  để  khắc phục những “ khiếm khuyết ” của mình.

Chương một
Thương cảng  Xin-ga-po.

1. Đặc thù diện tích, đất đai và địa l‎ý .
       
Thực chất  mà nói Xin-ga-po chỉ là một hòn đảo không hơn không kém và trong lịch sử, xứ này cũng chỉ được biết đến như một hòn đảo thưa thớt dân cư sống bằng nghề chài lưới. Còn  nước Xin-ga-po  hiện nay bao gồm  hòn đảo chính Xin-ga-po và 63 hòn đảo nhỏ trong đó chỉ có 20 hòn đảo có người ở và nằm rải rác trong vùng eo biển Xin-ga-po.
Xin-ga-po nằm ở cực nam bán đảo Mãlai, cách đường xích đạo 137 km về phía bắc giữa 1,09 và 1,29 vĩ độ Bắc và 103,36 và 104,25 kinh độ Đông, phía bắc giáp Ma-lai-xia và  đông-nam giáp In-đô-nê-xia. Nằm trong eo biển Malacca, đảo quốc này  trấn ngữ con đường hàng hải  huyết mạch từ đông sang tây và nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Tổng diện tích của Xin-ga-po chỉ là 699,4 km2 trong đó đảo lớn rộng 604,2 km2. Bờ biển dài 150,5 km; chiều dài từ đông sang tây trên đảo lớn là 42 km và từ bắc xuống nam là 23 km. Địa hình thấp, vùng trung tâm có một số đồi như : Bukit Timah, cao nhất Xin-ga-po với 163mét, Bukit Gomak ( 139 mét), Bukit Panjang (132 mét) và Bukit Batok (106mét). Vùng phía tây có cao nguyên nhấp nhô xen lẫn một số thung lũng. Vùng phía đông tương đối bằng phẳng kéo dài từ Katong đến Changi.
Ở Xin-ga-po cũng có một vài sông, suối tự nhiên. Dài nhất là sông Sungei Selebar,15 km. Sông Xin-ga-po (Singapore River) dài 3 km
Xin-ga-po hầu như không có tài nguyên, chỉ có một ít than, chì và đất sét với số lượng không đáng kể. Mọi nguyên liệu cần thiết cho sản xuất đều phải nhập từ bên ngoài. Đất canh tác chỉ chiếm 1,9% lãnh thổ và diện tích rừng là 4,5%. Do vậy, sản xuất nông nghiệp không tồn tại  và Xin-ga-po phải nhập  toàn bộ lương thực và thực phẩm, thậm chí cả nước ngọt để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Do nằm gần xích đạo nên Xin-ga-po có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình trong ngày là 26,80C, cao nhất là 30,9 0C  và thấp nhất là 23,90C ; độ ẩm trung bình là 84,3% ; lượng mưa trung bình trong năm là 2.345mm. Khí hậu có hai mùa: mùa mưa từ tháng 12 đến tháng 3, có gió đông bắc và mùa khô từ tháng 6 đến tháng 9 có gió tây nam. Trong những tháng chuyển mùa, thường có giáo nhẹ vào ban ngày, tối thường có mưa và sấm sét. Tháng mưa nhiều là tháng 12 và tháng 1; tháng mưa ít nhất là tháng 7. Do nằm giữa  Ma-lai-xia và In-đô-nê-xia, Xin-ga-po không bị ảnh hưởng bão và động đất.
Như vậy, xét về mặt diện tích và đất đai, Xin-ga-po chỉ  là một quốc đảo, đồng thời lại nhỏ nhất ở Đông Nam Á.. Nhưng do nằm ở  vị trí đắc địa, Xin-ga-po luôn là mối quan tâm hàng đầu về nhiều mặt của các cường quốc trong và ngoài khu vực, kể từ khi giao lưu buôn bán phát triển trong khu vực.
Về mặt kinh tế, ngay từ đầu thế kỷ XIX Xin-ga-po đã là một trung tâm buôn bán của Đông Nam Á, có cảng biển nước sâu nhất và cơ sở kho bãi thuận tiện. Ngày nay, với vị trí địa lý được thiên nhiên ưu đãi như vậy và  có cơ sở hạ tầng và hậu cần  hiện đại, Xin-ga-po là một trong những cảng nhộn nhịp nhất thế giới. Hàng năm, Xin-ga-po  bốc xếp khoảng 16,8 triệu tấn Con-te-nơ, nối liền với 600 cảng ở 130 nước và  với 250 đường vận tải biển. Sân bay Changi cũng được đánh giá là thuận tiện và phục vụ tốt nhất thế giới. 80 hãng hàng không có  hoạt động tại sân bay này, nối liền với 180 thành phố trong 57 nước. Hiện nay, mỗi tuần có 4.100 chuyến bay và dự kiến, đến năm 2008 sẽ có 64  triệu lượt khách được chuyên trở  qua sân bay Changi.
Về an ninh và quốc phòng, vị trí địa l‎ý  của Xin-ga-po như đã trình bày ở trên, có một ý  nghĩa đặc biệt. Chính vì vậy,  trong chiến lược phòng thủ ở cả thời kỳ chiến tranh lạnh cũng như  hiện nay, các nước lớn đặc biệt là Mỹ rất  quan tâm đến hòn đảo này. Ý thức được điều đó, các  nhà lãnh đạo Xin-ga-po đã tìm mọi cách để phát huy lợi thế về vị trí địa l‎ý và hạn chế những bất lợi khác. Có thể nói, nhờ vào vị trí địa l‎ý mà Xin-ga-po đóng một vai trò lớn hơn nhiều lần trong quan hệ quốc tế,  so với diện tích  nhỏ hẹp của hòn đảo.

2. Đặc thù lịch sử.

 Những tài liệu cũ viết về Xin-ga-po rất sơ sài và tên gọi hòn đảo này cũng không thống nhất. Theo tài liệu viết bằng tiếng Hoa, Xin-ga-po  được gọi là Pu-luo-chung, dịch từ tiếng Mãlai Pulau Ujong có nghĩa là “đảo tận cùng của bán đảo”.
 Theo Trường ca Java Negarakretagama, đảo có tên là Temasek, thị trấn Nước. Theo Biên niên sử Mãlai (Sejarah Melayu), Quốc vương xứ Palembang, nay là In-đô-nê-xia, trong một chuyến tuần dương, đã đổ bộ lên hòn đảo này để tránh bão. Bỗng dưng, ông ta nhìn thấy một con vật giống như con sư tử xuất hiện từ dưới biển. Sau khi trở về nước, Quốc vương nọ bèn quyết định thành lập một  xứ chư hầu trên đảo và gọi là Singapura, “Thị trấn Sư tử”. Chính vì thế mà từ cuối thế kỷ XIV, hòn đảo này  thường  được biết đến với cái tên Singapura.
 Trong suốt thế kỷ XIV, Xin-ga-po là địa bàn tranh chấp giữa hai vương quốc Xiêm và  Palembang. Cuối cùng, Vương quốc Palembang đã giành thắng lợi và kiểm soát toàn bộ bán đảo Mãlai. Tiếp theo đó, Xin-ga-po thuộc Vương quốc Malacca.
 Vào giữa thế kỷ XVIII, Anh bắt đầu mở rộng thuộc địa ở Ấn Độ và tăng cường buôn bán với Trung Quốc. Để ngăn chặn bước tiến của  Hà Lan ở Đông Ấn Độ và bảo vệ thương hạm của mình, Anh cần có một cảng trung chuyển trong khu vực. Chính vì vậy, họ đã lập thương cảng  Penang  năm 1786,  chiếm toàn bộ vùng Malacca từ tay Hà Lan năm 1795 và thành lập cảng  Xin-ga-po năm 1819.
  Trước đó năm 1818, Ngài Hasting, Toàn quyền Anh xứ Ấn Độ đồng ý ‎ để cho Phó Toàn quyền Stamford Raffles lập một trạm buôn bán tại cực nam bán đảo Mãlai. Ngày 29 tháng 01 năm 1819, Raffles đổ bộ lên đảo Xin-ga-po sau khi khảo sát các đảo xung quanh. Tiếp sau đó, ông ta đã k‎ý ‎ hiệp ước sơ bộ với Vương hầu (Temenggong)  Abdu’r Rahman để thành lập thương cảng tại đây. Ngày 6 tháng 2 năm 1819, một hiệp ước chính thức đã được k‎ý  kết với Quốc vương xứ Johor và Vương hầu  Abdu’r Rahman, một người trị vì về pháp lý  và một người quản lý  thực tế hòn đảo này.
 Năm 1824, hai văn bản pháp l‎ý ‎ đã được ký  kết  và Xin-ga-po chính thức trở thành thuộc địa của Anh. Hiệp ước thứ nhất được k‎ý kết  với Hà Lan theo đó Hà Lan không phản đối Anh chiếm toàn bộ Xin-ga-po; Hiệp ước thứ hai với Quốc vương Johor và Vương hầu  Abdu’r Rahman, đồng ý nhượng bán toàn bộ hòn đảo cho Anh.
 Năm 1826, ba vùng đất : Malacca, Penang và Xin-ga-po hợp thành thuộc địa Straits của Anh và năm 1832, Xin-ga-po trở thành thủ phủ của thuộc địa Straits. Ngày 01 tháng 4 năm 1867, thuộc địa này chính thức thuộc Vương quốc Anh dưới quyền Tài phán của Cơ quan Thuộc địa (Colonial Office) ở Luôn Đôn.
  Với việc phát minh tầu hơi nước vào giữa những năm 60  thế kỷ XIX và việc khai thông kênh đào Xuyê, Xin-ga-po trở thành thương cảng trung chuyển giữa châu Âu và Đông Á. Tiếp đến, vào những năm 70 của thế kỷ XIX khi các đồn điền cao su phát triển mạnh, Xin-ga-po trở thành trung tâm giao dịch về sản phẩm này.
 Sự phát triển của thương cảng đã thúc đẩy nhanh việc nhập cư. Từ một hòn đảo chỉ có ngư dân thưa thớt, năm 1860 Xin-ga-po đã có 80.792 dân trong đó người Hoa chiếm 61,9%, người Mãlai 13,5%, người Ấn Độ 16,05% và  người thuộc các sắc tộc khác là 8,55%.
 Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra đã  chấm dứt  quá trình phát triển liên tục của Xin-ga-po trong suốt gần một thế kỷ kể từ năm 1860. Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản bắt đầu ném bom hòn đảo này và ngày 15 tháng 2 năm 1942 chiếm đóng toàn bộ đảo. Tháng 9 năm 1945, Nhật Bản k‎ý phải hiệp định đầu hàng  quân đội đồng minh. Anh trở lại và thiết lập chế độ quân quản ở Xin-ga-po. Khi chế độ quân quản chấm dứt vào tháng 3 năm 1946,  Xin-ga-po tách khỏi thuộc địa Straits và trở thành thuộc địa riêng trong khi đó Penang và Malacca sát nhập vào Liên hiệp Mãlai (Malayan Union) năm 1946 , rồi Liên bang Mãlai (Federation of Malaya) năm 1948.
 Tháng 7 năm 1947, dưới áp lực của giới thương nhân, Hội đồng Lập pháp và Hành pháp (Executive and Legislative Councils) tách làm đôi. Tháng 3 năm 1948, cuộc bầu cử đầu tiên được tiến hành tại Xin-ga-po để  bầu chọn 6 thành viên của  Hội đồng Lập pháp.
 Tháng 6 năm 1948, Đảng Cộng sản Mãlai muốn giành chính quyền bằng bạo lực ; tình trạng khẩn cấp đã được ban bố và kéo dài 12 năm tại Ma-lai-xia  và Xin-ga-po. Ngày 22 tháng 9 năm 1951, Xin-ga-po được công nhận là một Thành phố (City). Cuối năm 1953, Chính phủ Anh  lập ra một  ủy ban dưới sự điều hành của  George Rendel  để xem xét lại quy chế pháp l‎ý  của Xin-ga-po. Những kiến nghị của ủy ban này được Chính phủ Anh chấp thuận và tạo cơ sở  cho việc thành lập  một Chính phủ tự trị rộng rãi hơn ở Xin-ga-po trong tương lai.
 Cuộc bầu cử  năm 1955 là cuộc tranh cử tự do đầu tiên trong lịch sử Xin-ga-po. Số người đăng ký đi bỏ phiếu tăng từ 75.000 lên 300.000 người, đặc biệt là người Hoa, vốn trước đây không quan tâm đến chính trị. Mặt trận Lao động (Labour Front) giành được 10 ghế, đảng Nhân dân Hành động (People’s Action Party- PAP) được  3 ghế. David Marshall trở thành Bộ trưởng Thứ nhất (Chief Minister) đầu tiên của  Xin-ga-po  ngày 06 tháng 4 năm 1955 với liên minh chính trị  bao gồm Mặt trận Lao động (Labour Front)  do Marshall  lãnh đạo, Tổ chức Dân tộc Mãlai Thống nhất (The United Malays National Organisation) và Liên hiệp người Hoa Mãlai (Malayan Chinese Association).
  Ngày 06 tháng 6 năm 1956, Marshall từ chức sau khi  cuộc đàm phán về quyền tự trị đầy đủ của Xin-ga-po tại Luân Đôn  bị thất bại. Lim Yew Hock, phó của Marshall kiêm bộ trưởng Lao động trở thành Bộ trưởng Thứ nhất. Tháng 3 năm 1957, cuộc đàm phán về Hiến pháp mới của Xin-ga-po do Lim Yew Hock tiến hành đã diễn ra ở Luân Đôn và kết thúc thành công. Ngày 28 tháng 5 năm 1958, Hiệp định về Hiến Pháp (constitutional Agreement) đã được k‎ý  kết tại Luân Đôn.
 Chính phủ tự trị được thành lập năm 1959 và tháng 5 năm 1959, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên đã được tổ chức nhằm bầu ra 51 thành viên của Quốc hội lập Hiến (Legislative Assembly)  Xin-ga-po. Đảng PAP giành được 43 ghế  chiếm  53,4% phiếu bầu. Ngày 03 tháng 6  năm 1959, Hiến pháp mới công nhận Xin-ga-po là một quốc gia tự trị có hiệu lực và Toàn quyền William Goode trở thành Quốc trưởng đầu tiên. Chính phủ đầu tiên của quốc gia tự trị Xin-ga-po nhậm chức ngày 05 tháng 6 năm 1959 và ông Lý Quang Diệu đảm đương chức vụ Thủ tướng. Đảng PAP của ông Lý Quang Diệu lên nắm quyền trong một mặt trận liên minh với những người cộng sản nhằm chống lại thực dân Anh. Nhưng nội bộ PAP lúc đó rất phức tạp và  chia thành hai phe. Những người ôn hòa chủ trương một Xin-ga-po thực sự độc lập trong một nước Ma-lai-xia không cộng sản trong khi đó những người thân cộng sản muốn chiếm toàn bộ chính quyền. Tình hình căng thẳng đã nổ ra công khai và những người thân cộng sản tách ra thành lập một đảng chính trị mới có tên gọi Barisan Socialis.
  Ngày 27 tháng 5 năm 1961, Thủ tướng Ma-lai-xia, ông Tunku Abdul Rahman đưa ra một đề nghị hợp tác chặt chẽ về chính trị và  kinh tế  trong một  liên hiệp bao gồm Liên bang Mãlai, Xin-ga-po, Sarawak, North Borneo và Brunei. Những nguyên tắc liên hiệp đã được Tunku Abdul Rahman và Lý Quang Diệu chấp thuận theo đó quốc phòng, ngoại giao và an ninh thuộc chính phủ trung ương còn giáo dục và công ăn việc làm thuộc chính quyền địa phương. Một cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức tại Xin-ga-po và cử tri hoàn toàn ủng hộ kế hoạch liên hiệp này.
  Liên hiệp được thành lập ngày 16 tháng 9 năm 1963, bao gồm Liên bang Mãlai, Xin-ga-po, Sarawak, North Borneo, riêng  Brunei không tán thành. In-đô-nê-xia và Phi-lip-pin phản đối việc thành lập Liên hiệp và bản thân chủ tịch Sukarno chống đối quyết liệt cho đến khi Liên hiệp tan rã năm 1965.
  Sau khi Liên hiệp tan rã, ngày 09 tháng 8 năm 1965, Xin-ga-po tách ra và trở thành một “quốc gia độc lập, chủ quyền và dân chủ”. Từ đây, Xin-ga-po tham gia các tổ chức quốc tế với tư cách quốc gia thành viên đầy đủ:
 
- Trở thành thành viên Liên hợp quốc ngày 21 tháng 9 năm 1965,
- Tham gia Khối thịnh vượng Anh (Commonwealth of Nations) ngày 15 tháng 10 năm 1965.
Ngày 22 tháng 12 năm 1965, Xin-ga-po trở thành một nước cộng hòa đầy đủ và ông Yusof bin Ishak trở thành Tổng thống đầu tiên.
  Bắt đầu từ đây, Xin-ga-po phải tìm ra con đường riêng của mình để tồn tại và phát triển. Trước hết, Xin-ga-po phải xây dựng được một bản sắc dân tộc từ những nét đặc thù của các cộng đồng người nhập cư đang cùng sinh sống trên đảo. Bí quyết  của cuộc đấu tranh  vì sự sống còn này là tận dụng được lợi thế về vị trí địa l‎ý  của hòn đảo,  những điểm mạnh của nền kinh tế thế giới và tiềm năng con người rất đặc thù trên hòn đảo này.

3. Đặc thù về con người.

Xin-ga-po là một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ và đa tôn giáo. Đáng lưu ý là người dân của nước này thuộc hai nền văn hóa lớn : Trung Quốc  và Ấn Độ. Người Mãlai được coi là dân bản xứ sống từ lâu đời trên đảo. Người Hoa di cư đến đây rất sớm. Có tài liệu cho rằng từ  năm 1330 đã có một số người Hoa sinh sống trên đảo.
Cho đến đầu thế kỷ XIX, đảo Xin-ga-po vẫn rất hoang vắng. Năm 1819 khi ông  Stanford Raffles cập bến sông Xin-ga-po, chỉ có khoảng vài trăm người sinh sống bằng nghề chài lưới dọc theo hai bờ sông. Chỉ sau khi Xin-ga-po trở thành thương cảng tự do và hoạt động buôn bán nhộn nhịp thì dân số trên đảo mới tăng nhanh. Trước hết, người Hoa và người Mãlai di cư từ Malacca đến ; tiếp theo đó là người In-đô-nê-xia đến từ các đảo lân cận và đảo Java. Người dân gốc Ấn Độ đến từ Penang và một số là lính phục vụ dưới quyền của ông Stanford Raffles.
 Tính đến tháng 6 năm 2005, dân số Xin-ga-po là 4.351.400, trong đó người mang quốc tịch Xin-ga-po là 3.553.500 triệu với mật độ dân số là 6.222 người/km2. Cộng đồng người Hoa đông nhất chiếm 76,3%; tiếp đến là cộng đồng người Mãlai:13,8%; cộng đồng người Ấn Độ, Pakistan và Xri-lanca: 8,3% và  1,7% người gốc khác. Số dân dưới 15 tuổi chiếm 20,8% và từ 65 tuổi trở lên là 7,7%. Các bảng dưới đây cho thấy những  dữ liệu  về dân số và xã hội của Xin-ga-po.


Bảng 1-1
Dân số và một độ dân số  (tính đến năm 2005)


Bảng 1-2
Hình chóp dân số theo đội tuổi và giới tính

 


Last Updated 2 Nov 2005

Bảng 1-3
Dân số và tỷ lệ tăng hàng năm

 

     Xin-ga-po cũng là một nước đa tôn giáo, tương ứng với các cộng đồng sắc tộc sống ở trên đảo quốc này. Theo bài phát biểu của Bộ trưởng Cao cấp Goh Chok Tong tại diễn đàn Jeddah tổ chức ngày 21 tháng 2 năm 2005 tại Arập Xêut, người theo Đạo Phật và Đạo giáo chiếm 51%;  Đạo Hồi : 15%; Đạo Cơ Đốc: 15%; Đạo Hindu: 4%; 15% còn lại là những người vô thần hoặc theo đạo Sik, Do Thái, đạo Zoroaxtriân và đạo Baha’i.
Về ngôn ngữ, Xin-ga-po cũng rất đặc thù, không giống quốc gia nào. Tiếng Mãlai là tiếng chính  thống, trong khi mà đa số người dân lại thường giao dịch với nhau bằng các thổ ngữ của người Trung Quốc. Ngôn ngữ hành chính, giao dịch và giảng dạy tại các trường học từ mẫu giáo đến đại học đều là tiếng Anh ; Tiếng Trung Quốc, tiếng Mãlai và tiếng Tamil (Nam Ấn Độ), mặc dù là tiếng mẹ đẻ của các cộng đồng sắc tộc tương ứng, lại chỉ là các môn học bình thường  trong các trường  phổ thông.
Trước tiến trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng nhanh chóng và với một chiến lược muốn xây dựng Xin-ga-po thành thành phố toàn cầu (Global City), Chính phủ Xin-ga-po chủ trương nâng cao chất lượng tiếng Anh của người dân Xin-ga-po. Trên thực tế nhiều người chê bai tiếng Anh  được sử dụng trên đảo quốc này. Đó là Singlish, một thứ tiếng Anh mang nặng cách phát âm và cách sử dụng ngôn ngữ của người Xin-ga-po gốc Hoa. Đồng thời, do hợp tác quốc tế phát triển  mạnh, đặc biệt với Trung Quốc, Ma-lai-xia và In-đô-nê-xia, chính phủ khuyến khích học tiếng Mãlai và tiếng Trung quốc phổ thông, không nói các thổ ngữ của người  Hoa.
Trẻ em bắt đầu đi học từ 6 tuổi; hệ thống giáo dục cơ bản là 10 năm: 6 năm cấp tiểu học và 4 năm cấp trung học. Sau đó học sinh có thể chọn học tiếp dự bị đại học (Junior College) nếu có đủ năng lực hoặc vào các trường cao đẳng Kỹ thuật (Polytechnics) hay Viện Giáo dục Công nghệ (Institute of Technical Education-ITE).
Như vậy, Xin-ga-po không chỉ  nhỏ bé về diện tích, mà còn rất  đặc thù về  nhân chủng. Mọi chính sách và chiến lược phát triển khi được hoạch định mà  không tính đến các đặc thù này thì chắc chắn sẽ thất bại chứ đừng nói đem đến hiệu quả gì dù là nhỏ nhất. Hơn nữa, ở thời điểm độc lập, tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của Xin-ga-po vô cùng khó khăn. Hầu như không ai tin rằng Xin-ga-po có thể  tồn tại được sau khi tách khỏi Ma-lai-xia năm 1965. Tỷ lệ thất nghiệp lúc đó rất cao và ngày càng trầm trọng do không kiểm soát được sinh đẻ. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào kho cảng và không đủ cung cấp công ăn việc làm cho hàng nghìn thanh niên bước vào thị trường lao động thì làm gì còn hy vọng làm giảm nhẹ tình trạng thất nghiệp. Nội tình rối ren do đấu tranh giành quyền lực. Về mặt xã hội, xung khắc giữa các sắc tộc ngày càng trầm trọng và có nguy cơ bùng nổ công khai.
Để khắc phục tình trạng không có tài nguyên nhiên nhiên và nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng ở thế  “ngàn cân treo sợi tóc”, thế hệ lãnh đạo đầu tiên  của Xin-ga-po chủ trương là phát triển phải hoàn toàn dựa vào yếu tố con người. Triết l‎ý  phát triển của Xin-ga-po là phát huy tối đa tiềm năng cá nhân của  mỗi  người dân. Đi liền với triết l‎ý này là tạo ra một môi trường chính trị cả trong và ngoài nước ổn định. Mặt khác, mọi đường lối và chính sách của Chính phủ Xin-ga-po phải rõ ràng, minh bạch nhằm thu hút các công ty đa quốc gia (MNCs) đầu tư lớn và lâu dài.


Chương hai
Cộng hòa Xin-ga-po.

1. Những chặng đường phát triển.

1.1. Ngay sau khi tuyên bố độc lập, chính phủ Xin-ga-po đã bắt tay ngay vào xây dựng đất nước bằng cách đưa ra một chương  trình công nghiệp hóa tổng thể với việc mở rộng khu công nghiệp Jurong và lập các khu công nghiệp mới có quy mô nhỏ hơn: Kallang Park, Tanjong Rhu, Redhill, Tiong Bahru và Tanglin Halt. Luật  Lao động và Luật về Quan hệ Công nghiệp (sửa đổi) được thông qua năm 1968 nhằm duy trì kỷ luật và kỷ cương trong  lao động. Ban Phát triển Kinh tế (Economic Development Board-EDB) được tổ chức lại năm 1968, Tập đoàn Jurong Town Corporation (JTC) và Ngân hàng Phát triển Xin-ga-po (Development Bank of Singapore-DBS) cũng được thành lập năm đó. Năm 1970, Cơ quan Tiền tệ Xin-ga-po (Monetary Authority of Singapore-MAS) ra đời nhằm hoạch định và thực hiện chính sách tiền tệ của Xin-ga-po. Phát triển nhà ở cho dân là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Xin-ga-po ; đặc biệt, Tổng cục Nhà ở (Housing & Development Board-HDB)  đã cho xây dựng những khu đô thị mới với các căn hộ giá rẻ dành cho người có thu nhập thấp thuê hoặc mua.
1.2. Năm 1967, Anh quyết định rút hết quân đội ra khỏi Xin-ga-po vào cuối năm 1971 và chấm dứt hoạt động của Bộ Tư lệnh Viễn Đông của Anh. Ngay lập tức, Xin-ga-po khẩn trương tiến hành xây dựng quân đội riêng. Cơ quan Huấn luyện các Lực lượng Vũ trang Xin-ga-po được thành lập năm 1966 ; chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc được ban hành năm 1967; Binh chủng Không quân và Binh chủng Hải quân được thành lập năm 1969.
1.3.  Tháng 8 năm 1967, Xin-ga-po cùng các nước In-đô-nê-xia, Thái Lan, Ma-lai-xia , Phi-lip-pin thành lập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations- ASEAN).
1.4. Trong những năm 1970, Xin-ga-po đạt được một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao  và tình hình chính trị và xã hội dần dần ổn định. Năm 1979, sau hai cuộc khủng hoảng dầu lửa, Xin-ga-po bắt đầu cải tổ cơ cấu nền kinh tế. Để taọ ra một nền kinh tế năng động, có khả năng thu hút những tiến bộ khoa học và công nghệ, đồng thời phù hợp với những thành tựu phát triển mới của nền kinh tế thế giới, Xin-ga-po thay đổi nội dung và chương trình giáo dục trên cơ sở tăng cường dạy công nghệ và vi tính, ưu đãi tài chính cho các xí nghiệp  và tìm cách nâng cao năng suất lao động.
1.5. Trong thập niên 80, Xin-ga-po củng cố chế độ chính trị, Sửa đổi Luật Bầu cử  quy định  có nghị sĩ lựa chọn (Non-constituencies Member of Parliament-NCMPs), năm 1984 và thành lập 14 Khu vực bầu cử theo Đại diện Cộng đồng (Group Representation constituencies –PRCs), năm 1988.
1.6. Trong thập niên 90, Xin-ga-po hoàn thiện một bước nữa nền dân chủ; tháng 9 năm 1991, Sửa đổi Hiến pháp quy định có nghị sĩ chỉ định (Nomimated Member of Parliament –NMPs) ; tháng 10 năm 1991 Sửa đổi Hiến pháp quy định Tổng thống do dân trực tiếp bầu ra. Ngày 28 tháng 11 năm 1990, ông Lý Quang Diệu từ chức Thủ tướng sau 29 năm cầm quyền và ông Goh Chok Tong lên thay. Đây là cuộc chuyển giao quyền lực lần thứ nhất.
1.7.  Năm 1997, khủng hoảng tiền tệ và tài chính nổ ra tại khu vực, nền kinh tế Xin-ga-po cũng bị ảnh hưởng nhưng không tồi tệ như kinh tế Thái Lan, Ma-lai-xia  và In-đô-nê-xia.
1.8. Năm 2003,  chiến tranh Iraq rồi dịch bệnh SARS nổ ra và kinh tế Xin-ga-po lại bị ảnh hưởng.
1.9. Ngày 12 tháng 8 năm 2004, ông Goh Chok Tong  từ chức và chuyển giao chức vụ Thủ tướng cho ông Lý Hiển Long, con trai ông Lý Quang Diệu.
1.10. Ngày 20 tháng 4 năm 2006, Thủ tướng Lý Hiển Long đệ đơn yêu cầu Tổng thống giải tán Quốc hội và tiến hành bầu cử trước thời hạn. Ngày 16 tháng 5 năm 2006, cử tri Xin-ga-po đã đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội khóa IX, Đảng PAP giành được 82/84 ghế với 66,6% số phiếu bầu có giá trị.

2. Hệ thống chính trị.

Xin-ga-po  là một nước cộng hòa nghị viện dựa theo mô hình Westminster của Anh. Hệ thống chính trị  Xin-ga-po hoạt động dựa trên nguyên tắc đa đảng, nhưng gần giống với chế độ dân chủ độc đảng vì kể từ khi giành được độc lập đến nay, Đảng  Nhân dân Hành động (People’s Action Party-PAP) liên tục cầm quyền trong khi đó phe đối lập lại quá yếu. Xin-ga-po hiện có 24 đảng đăng k‎ý  hoạt động chính thức, nhưng ngoài đảng cầm quyền  (PAP) ra thì  chỉ có  ba đảng là có hoạt động đáng kể. Đó Đảng Lao động (Workers’ Party-WP), Đảng Dân chủ Xin-ga-po  (Singapore Democratic Party-SDP) và Liên minh Dân chủ Xin-ga-po  (Singapore Democratic Alliance-SDA) .

2.1. Tổng thống.

Theo Hiến pháp Xin-ga-po, Tổng thống là Nguyên thủ Quốc gia. Trước năm 1991, Tổng thống do Quốc hội bầu ra, nên chỉ có vai trò khánh tiết. Tháng 01 năm 1991, Xin-ga-po sửa đổi Hiến pháp quy định Tổng thống được bầu ra theo thể thức phổ thông đầu phiếu trực tiếp và có nhiệm kỳ 6 năm. Đây là một trong những thay đổi thể chế và chính trị lớn nhất trong lịch sử của Xin-ga-po. Tổng thống đầu tiên do dân trực tiếp bầu ngày 28 tháng 8 năm 1993 là ông Ong Teng Cheong.
Theo Sửa đổi Hiến pháp năm 1991, Tổng thống có một số thực quyền : thông qua ngân sách quốc gia và bổ nhiệm một số vị trí quan trọng, trước hết là Thủ tướng. Ngoài ra, Tổng thống có thể kiểm soát một số  hoạt động của chính phủ theo luật An ninh Nội địa, xem xét  “tính chất hài hòa về  tôn giáo” của các dự luật mới và cho tiến hành điều tra về các trường hợp cáo buộc tham nhũng. Nhưng Tổng thống không hẳn có đủ khả năng pháp l‎ý để thực thi mọi quyền hành nêu  trên mà phải tham khảo ý kiến Hội đồng Cố vấn Tổng thống (Council of Presidential Advisors- CPA) về một số lĩnh vực.
Hội đồng Cố vấn Tổng thống được thành lập theo Sửa đổi Hiến pháp năm 1991. Như tên gọi của nó, CPA có nhiệm vụ tư vấn Tổng thống vì  theo quy định của Hiến pháp, Tổng thống bắt buộc phải tham khảo‎ ý kiến của CPA trước khi phủ quyết ngân sách của chính phủ, hay của một số cơ quan quan trọng, hoặc bác bỏ quyết định bổ nhiệm của chính phủ đối với một số vị trí chủ chốt trong bộ máy hành chính. CPA gồm 6 thành viên, 2 người do Tổng thống bổ nhiệm, 2 người do Thủ  tướng, 1 người do Chánh án Tối cao và 1 người do Chủ tịch  Ủy ban Dịch vụ Công. Nhiệm kỳ của các thành viên là 6 năm và có thể được gia hạn thêm một nhiệm kỳ 4 năm. Chủ tịch CPA đảm đương chức vụ Quyền Tổng thống khi Tổng thống vắng mặt. Nếu Chủ tịch CPA không thể đảm đương chức vụ này  thì mới đến lượt Chủ tịch Quốc hội. 
Một điều đáng lưu ý nữa trong hệ thống chính trị Xin-ga-po là theo Hiến pháp, bên cạnh Tổng thống có Hội đồng Tổng thống về các Quyền thiểu số (Presidential Council for Minority rights). Hội đồng này có nhiệm vụ xem xét mọi dự luật đã được Quốc hội thông qua  để  xác định xem liệu có điểm nào mang tính chất phân biệt tôn giáo và sắc tộc không. Nếu được Hội đồng này chấp thuận  thì dự luật sẽ được đệ trình lên Tổng thống để ban hành. Hội đồng gồm Chủ tịch, 01 thư kí và 15 thành viên đều do Tổng thống bổ nhiệm theo khuyến nghị của Nội các.
Tổng thống hiện nay là ông Stellapan Rama Nathan, nhậm chức nhiệm kỳ đầu tiên  ngày 01 tháng 9 năm 1999 và bắt đầu nhiệm kỳ thứ 2 ngày 01 tháng 9 năm 2005.

2.2. Nội các.

Khi kết quả bầu cử Quốc hội được công bố chính thức, người đứng đầu của đảng hoặc của một liên minh chính trị giành đa số ghế trong Quốc hội sẽ được Tổng thống bổ nhiệm làm Thủ tướng và thành lập Nội các. Theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống bổ nhiệm các bộ trưởng thành viên Nội các.
  Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội về mọi chính sách của chính phủ và quản l‎ý  công việc quốc gia. Nội các bao gồm Thủ tướng và các bộ trưởng : Phát triển Cộng đồng ; Thanh niên và Thể thao ; Quốc phòng ; Giáo dục ; Môi trường và Nguồn  nước ; Tài chính; Ngoại giao; Y tế ; Nội vụ; Thông tin, Viễn thông và Nghệ thuật;  Pháp luật; Lao động; Phát triển quốc gia; Thương mại và Công nghiệp và Giao thông.
Nội các hiện nay được thành lập ngày 30 tháng 5 năm 2006, gồm Thủ tướng, 1 Bộ trưởng  Cấp cao (Senor Minister), 1 Bộ trưởng-Cố vấn (Minister Mentor), hai Phó thủ tướng, 13 Bộ trưởng, 3 Bộ trưởng đặc trách cấp cao (Senor Ministers of State) và 9 Bộ trưởng Đặc trách (Ministers of State).

2.3. Quốc hội.

Quốc hội Xin-ga-po là đơn viện và có 94 nghị sĩ, nhưng chỉ có 84 ghế được bầu trực tiếp. Số ghế này được  quy định như sau:
- 75 ghế được phân bổ để tranh cử ở 14 Khu vực bầu cử theo Đại diện Cộng đồng (Group Representation constituencies –PRCs) tùy theo số lượng cử tri của mỗi cộng đồng sắc tộc trong khu vực bầu cử đó. Khu vực bầu cử theo Đại diện Cộng đồng (GRCs) được thành lập theo Sửa đổi Hiến pháp năm 1988. Mục đích của việc lập ra các GRCs là đảm bảo tính đại diện cho tất cả các Cộng đồng sắc tộc trong Quốc hội, đồng thời cũng đảm bảo cho đảng PAP duy trì sự lãnh đạo của mình. Điều này bởi vì chỉ cần giành  quá bán số phiếu bầu hợp lệ là đảng PAP giành toàn bộ số ghế nghị sĩ  được ấn định theo luật ở khu vực bầu cử đó.
- 9 ghế được tranh cử đơn lập  (Single-Member Constituencies) ở 9 khu vực bầu cử (Ward)  khác nhau; 
- 10 ghế còn lại được chia thành hai loại : nghị sĩ lựa chọn (Non-constituencies Member of Parliament-NCMPs) và nghị sĩ chỉ định (Nomimated Member of Parliament-NMPs). Nghị sĩ lựa chọn với số lượng tối đa là 03, được lựa chọn trong số những ứng cử viên của các đảng đối lập không trúng cử và thu được số lượng phiếu cao nhất. Nghị sĩ chỉ định được lựa chọn trong số những người không tham gia đảng phái chính trị nào,  đại diện cho những quan điểm khác nhau trong xã hội. Cả hai loại nghị sĩ này có nhiệm kỳ là 2,5 năm. Theo Hiến pháp, các NCMPs và NMPs cũng có quyền và nghĩa vụ như các nghị sĩ được bầu, ngoại trừ quyền bỏ phiếu sửa đổi Hiến pháp, Tín nhiệm Chính phủ, Luật Ngân sách, Luật Bổ sung Ngân sách và các luật thuế.
Quốc hội có nhiệm kỳ là 5 năm, nhưng có thể bị giải tán trước thời hạn. Trong trường hợp đó, bầu cử sẽ được tổ chức trong vòng 3 tháng kể từ ngày Quốc hội tuyên bố bị giải tán.
Ứng cử viên nghị sĩ phải là công dân Xin-ga-po, đủ 21 tuổi trở lên và đáp ứng mọi quy định được ghi trong Hiến pháp. Mọi ứng cử viên khi đã được chứng nhận đủ tư cách pháp ‎l‎ý  sẽ phải đệ đơn xin đăng k‎ý  tranh cử và đặt cọc 13.500 SGD. Số tiền này được hoàn trả nếu ứng  cử viên thu được tối thiểu 1/8 số phiếu bầu hợp lệ.
Nếu không có ứng cử viên cạnh  tranh trong khu vực bầu cử thì (các) ứng cử viên  được tuyên bố trúng cử ngay trong ngày đăng k‎ý  và không tổ chức bầu cử ở khu vực đó nữa.
Mọi công dân đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử; bầu cử được tiến hành theo thể thức bỏ phiếu kín và bắt buộc.
Chủ tịch (Speaker) Quốc hội được bầu trong số các nghị sĩ không phải bộ trưởng hoặc Thư k‎ý Quốc hội, thậm trí trong số những người không phải là nghị sĩ Quốc hội nhưng có đủ tư cách để được bầu là nghị sĩ theo các tiêu chí được ghi trong Hiến pháp.
Để đảm đương tốt chức năng của mình, Chủ tích Quốc hội phải vô tư và công bằng với mọi nghị sĩ. Chủ tịch chủ trì mọi cuộc họp của Quốc hội, quyết định trình tự các vấn đề cần đưa ra để thảo luận và bỏ phiếu và quyết định danh sách các nghị sĩ đăng k‎ý  phát biểu thảo luận. Chủ tịch không tham gia thảo luận, nhưng có quyền bỏ phiếu nếu là nghị sĩ.
Chủ tịch  đại diện cho Quốc hội trong quan hệ đối ngoại với Quốc hội của các nước và quan hệ với các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị, kinh tế và  xã hội...
Chủ tịch điều hành cơ quan hành chính và Ban Thư k‎ý của Quốc hội.
Chủ tịch có hai Phó Chủ tịch trợ giúp.
Khóa họp Quốc hội bắt đầu khi Chủ tịch quyết định triệu tập; Quốc hội họp công khai và cho phép công chúng dự. Các nghị sĩ có thể nói tiếng Anh, tiếng Trung,  tiếng Mãlai hoặc tiếng Tamil và có hệ thống dịch trực tiếp.
Quốc hội có ba chức năng cơ bản: làm luật, kiểm soát tài chính và chất vấn chính phủ.
Dự luật do chính phủ soạn thảo và do một bộ trưởng trình bày trước Quốc hội. Nghị sĩ cũng có thể đưa ra dự luật và khi đó dự luật được gọi là dự luật cá nhân của người đưa ra. Mọi dự luật phải qua 3 lần  trình bày (readings) và phải được thông qua bằng thể thức  bỏ phiếu.
Quốc hội thực thi quyền kiểm soát tài chính thông qua quá trình thảo luận và phê duyệt dự thảo ngân sách năm tới và quyết toán ngân sách năm cũ. Năm tài chính ở Xin-ga-po bắt đầu từ ngày 01 tháng 4 hàng năm.
Trước mỗi phiên họp, Quốc hội dành 1giờ 30 phút để chất vấn Chính phủ. Câu chất vấn có thể là viết hoặc trình bày tại chỗ.
Bộ trưởng đặc trách Quốc hội (Leader of the House) là một chức vụ do Thủ tướng bổ nhiệm, chịu trách nhiệm phối hợp công việc của chính phủ và chương trình hoạt động của Quốc hội. Đồng thời, bộ trưởng cũng xem xét các vấn đề do Quốc hội đưa ra dưới góc độ thể thức, quyết định chương trình nghị sự của mỗi phiên họp và xem xét việc kéo dài khóa họp của Quốc hội khi cần thiết. Thường là Bộ trưởng Nội vụ kiêm luôn chức vụ Bộ trưởng đặc trách Quốc hội
Trưởng nhóm nghị sĩ của các đảng (Party Whip-PW) có trách nhiệm đảm bảo cho thông tin thông suốt và sự vận hành trôi chảy  công việc của Quốc hội  trong đảng của mình. Ngoài ra, các PW phải  làm sao để đảm bảo rằng các nghị sĩ của đảng phải bỏ phiếu theo quan điểm của đảng mình. Đôi khi, các nghị sĩ cũng  được phép bỏ phiếu theo quan điểm riêng của mình.
Quốc hội Xin-ga-po có 7 Ủy ban được bầu ra tại mỗi kỳ họp của Quốc hội.
- Ủy ban Tổ chức( Committee of Selection),
- Ủy ban Ưu đãi, ( Committee of Privileges)
- Ủy ban Đánh giá ( Estimates Committee),
- Ủy ban Hành chính ( House Coomittee)),
- Ủy ban Tài chính công (Public accoumts Committee),
- Ủy ban Khiếu nại ( Public petitions Committee),
- Ủy ban Nghị sự ( standing Orders Committee),
Ngoài ra, Quốc hội có thể lập ra các Ủy ban khác khi cần thiết. Ví dụ như Ủy ban Pháp luật để xem xét trước các dự luật. Mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban được quyết định theo thể thức đa số phiếu.
Quốc hội Xin-ga-po  chỉ có Ban Thư k‎ý, chứ không phải Văn phòng. Ban Thư k‎ý có những nhiệm vụ sau : 
- Giúp Quốc hội thực thi mọi chức năng của mình,
- Giúp các Ủy ban của Quốc hội,
- Giúp Hội đồng Tổng thống về quyền của các Cộng đồng thiểu số thẩm tra các dự luật đã được Quốc hội thông qua,
- Quan hệ với Liên minh Nghị sĩ ASEAN (AIPO).
Ban Thư k‎ý bao gồm :
- Ban Lục sự,
- Phòng Báo cáo,
- Phòng Ngôn ngữ,
- Phòng An ninh,
- Phòng Hành chính,
- Phòng Tài chính,
- Phòng Quản trị,
- Phòng Giáo dục về Quốc hội,
- Phòng Xuất bản,
- Phòng Vi tính kỹ thuật.
Đứng đầu Ban Thư k‎ý là một Lục sự (Clerk). Là người cao nhất về mặt hành chính trong Quốc hội, Lục sự có trách nhiệm điều hành và phối hợp công việc của các cơ quan thuộc Ban Thư k‎ý.

2.4. Cơ quan Tư pháp.

Quyền lực tư pháp ở Xin-ga-po được thực thi thông qua Bộ Pháp luật (Ministry of Law) và hệ thống tòa án. Bộ Pháp luật có ba nhiệm vụ chính :
- Giám sát việc phát triển hệ thống pháp luật ở Xin-ga-po nhằm xây dựng một cơ sở pháp l‎ý  tiến bộ và lành mạnh, kể cả chế độ thu hồi nợ, bảo hộ doanh nghiệp và đảm bảo kỷ cương, đồng thời thiết lập một hệ thống tư pháp bình đẳng cho tất cả mọi người.
- Xây dựng và thể chế hóa các chính sách và tập tục nhằm phát huy tối đa nguồn đất đai của Xin-ga-po, thúc đẩy khế ước cộng đồng, khuyến khích kinh doanh, đồng thời bảo hộ mọi quyền sở hữu.
- Phát triển vững chắc chế độ sở hữu trí thức nhằm đảm bảo một môi trường công bằng cho mọi cơ hội đầu tư.
 Hệ thống tư pháp ở Xin-ga-po gồm Tòa án Tối cao (Supreme Court)  và các Tòa án trực thuộc. Trong Tòa án Tối cao có Tòa Đại hình (High Court) và Tòa Phúc thẩm (Court of Appeal). Chánh án Tòa án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm sau khi tham vấn Thủ tướng. Các thẩm phán cũng do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở tham vấn Thủ tướng và Chánh án Tòa án Tối cao.
Hệ thống pháp luật Xin-ga-po dựa trên luật tập tục của Anh và tính bắt buộc của các phán quyết của Tòa án Quốc tế vẫn chưa được thừa nhận. Tư pháp  xét xử chỉ căn cứ theo luật pháp và  hoàn toàn độc lập với hai ngành lập pháp và hành pháp. Tính độc lập của tòa án được ghi trong  Hiến pháp.

2.5. Tính chất của chính quyền.

Về xây dựng các thể chế Nhà nước, ba nguyên tắc tối thượng được đề ra và  tuân thủ một cách triệt để đó là  gọn nhẹ, hiệu quả và trong sạch.
Trước hết nói về sự gọn nhẹ. Nếu so sánh máy móc về diện tích và dân số thì Xin-ga-po  tương đương với thành phố Hà Nội. Nhưng về mặt chính quyền Xin-ga-po  chỉ có một cấp. Đó là chính phủ trung ương. Xin-ga-po được chia thành 5 Quận (Districts) và đứng đầu là Thị trưởng do chính phủ bổ nhiệm trong số các nghị sĩ. Tại quận có Hội đồng Phát triển Cộng đồng (Community Development Councils-CDCs). CDCs được coi là cấp hành chính địa phương, nhưng không có vai trò quản l‎‎ý  nhà nước. CDCs có nhiệm vụ phát triển  cộng đồng, văn hóa và xã hội. CDCs được hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước thông qua các dự án. Dưới CDCs còn có các Hội đồng Khu phố (Town Councils) và Hội đồng Dân cư (Residents Councils). Điều đáng lưu ý  là tất cả các loại hội đồng này không phải là cơ quan quản l‎ý nhà nước  mà chỉ hoạt động như các tổ chức xã hội.
 Ở cấp trung ương, Phủ Tổng thống và Văn phòng Thủ tướng không có các Ban hay Vụ giúp việc mà chỉ có các cố vấn theo dõi công việc của từng bộ, ngành. Để tránh quan liêu và tạo ra sự năng động trong bộ máy nhà nước, Chính phủ Xin-ga-po đã thành lập các Ban có quy chế độc lập (Statutory Boards) hay Cơ quan Thẩm quyền (Authorities) Đứng đầu mỗi Ban hay Cơ quan Thẩm quyền là chủ tịch do Quốc hội Xin-ga-po phê chuẩn bằng luật trên cơ sở đề nghị của chính phủ. Đây là những công chức cao cấp bậc nhất trong bộ máy hành chính của Xin-ga-po, vừa có năng lực chuyên môn lại có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về lĩnh vực hoạt động được chính phủ giao phó. Về thứ bậc hành chính, các Cơ quan này  được đặt dưới một bộ, nhưng có  vai trò nhiệm vụ rõ ràng, không lệ thuộc một cách máy móc vào bộ chủ quản.
Gọn nhẹ đi đôi với hiệu quả. Hiệu quả  do phân định rõ ràng trách nhiệm và tính độc lập giữa các cơ quan công quyền và sự lưu thông, kết nối về công việc và thông tin trong bộ máy nhà nước. Trong bộ máy công quyền của Xin-ga-po, không có chuyện đùn đẩy công việc hay trách nhiệm. Một vấn đề chỉ có một cơ quan công quyền  phụ trách và chịu trách nhiệm. Chẳng hạn, Ban Phát triển Kinh tế (Economic Development Board-EDB) chịu trách nhiệm thu hút các công ty nước ngoài vào Xin-ga-po. Ngược lại, Ban Doanh nghiệp Quốc tế (International Enterprise Singapore-IESgp) có nhiệm vụ đưa các công ty Xin-ga-po ra đầu tư ở nước ngoài. EDB và IESgp đều nằm trong bộ Công Thương, nhưng hoàn toàn chịu trách nhiệm trước chính phủ và thước đo về hiệu quả công việc của các Ban này chính là số lượng công ty nước ngoài đến Xin-ga-po mở chi nhánh và đầu tư hay là số lượng công ty  Xin-ga-po đầu tư ra nước ngoài. Hay khi nói về vấn đề sinh viên nước ngoài du học tại Xin-ga-po, người ta nghĩ ngay đến Ban Du lịch Xin-ga-po (Singapore Tourism Board-STB). STB là cơ quan duy nhất của Xin-ga-po  có quyền và chịu trách nhiệm quảng bá du học đến sinh viên nước ngoài muốn đến học tự túc tại Xin-ga-po. Thậm chí, để thực hiện tốt chức năng được giao, ba Ban này -EDB, IESgp, STB- được mở Văn phòng Đại diện ở nước ngoài, độc lập với các Cơ quan Đại diện Ngoại giao của Xin-ga-po. 
 Nguyên tắc thứ ba trong việc xây dựng bộ máy công quyền là trong sạch. Khi mới độc lập, Xin-ga-po là môt hòn đảo bị hoành  hành bởi mọi tệ nạn xã hội, đặc biệt là tham nhũng. Sau 40 năm tồn tại, đảo quốc này đã trở thành một quốc gia trong sạch và minh bạch vào bậc nhất thế giới. Bí quyết thành công là :
- Người đứng đầu quốc gia -đầu tiên là ông L‎ý  Quang Diệu, sau đến ông Goh Chok Tong và nay là ông L‎ý  Hiển Long- phải có tầm nhìn, am hiểu thời cuộc, quyết đoán và gương mẫu.
- Tiếp thu tất cả những gì là ưu việt về chính sách, quản l‎ý, bộ máy và con người ở mọi nước, không phân biệt và không mặc cảm, không cứng nhắc giáo điều, không cực đoan.
- Luật pháp chặt chẽ, xử phạt  nghiêm minh, không thiên vị, không châm chước. Cơ quan xét xử hoàn toàn độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp và đặc biệt không bao giờ bị chi phối bởi các đảng phái trính trị. Đúng là mọi người dân bình đẳng trước luật pháp vì mọi tranh chấp và khiếu kiện dù có liên quan đến Thủ tướng đều thông qua con đường tố tụng và do toà án phán quyết.
- Cán bộ không dám, không muốn và không thể tham nhũng. Cơ quan điều tra tham nhũng (Corruption Practices Investigation Bureau-CPIB) trực thuộc thẳng Thủ tướng, có toàn quyền về điều tra và kết tội tham nhũng. Không ai và không có cấp nào có thể có ý  kiến hay can thiệp nhằm làm sai lệch kết quả  điều tra hay xử án.
- Cán bộ được lựa chọn chỉ dựa trên ba tiêu trí: năng lực, liêm khiết và toàn tài (meritocracy), không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính và kể cả quốc tịch.
- Trả lương và đãi ngộ cao để cán bộ không muốn tham nhũng. Mọi tài sản và thu nhập của bất cứ ai mà không thể giải thích được nguồn gốc đều bị tịch thu và sung công quỹ. Công chức và người làm công ăn lương không có bất cứ thu nhập nào ngoài lương và tiền thưởng theo luật định.

2.6. Chiến lược lãnh đạo và duy trì sự lãnh đạo của đảng PAP.

Xin-ga-po theo chế độ nghị viện  đa đảng. Nhưng cho đến nay đảng PAP gần như độc tôn vì hai l‎ý  do chính. Thứ nhất là các đảng đối lập quá yếu, không có thể tạo ra một  khả năng luân phiên chính trị khả thi. Thứ hai là -đây là l‎ý  do quyết định- PAP luôn quy tụ được đầy đủ các điều kiện để duy trì sự lãnh đạo đất nước. Xin nêu ra một số nhận xét:
- Chiến lược phát triển đất nước vô cùng sáng suốt, phù hợp với xu thế của thời cuộc và đáp ứng đúng những đòi hòi của đất nước và của người dân. Đi đôi với chiến lược phát triển đất nước đúng đắn là những chính sách độc đáo trong từng lĩnh vực. Trong quan hệ quốc tế, đó là chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hội nhập tối đa nhằm tận dụng mọi lợi thế của thời đại và hạn chế những bất lợi của Xin-ga-po. Chính sách an ninh và quốc phòng nhằm mục đích tối ưu là đảm bảo môi trường bình yên, an toàn cho mọi người dân và các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời đảm bảo chủ quyền, độc lập của Xin-ga-po và tạo ra một vị thế nhất định cho Xin-ga-po trong khu vực. Về mặt xã hội, chính sách xây dựng cộng đồng và gắn kết xã hội là nhất quán và triệt để vì một quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo. Chính sách phát triển và sử dụng một ngôn ngữ chung -tiếng Anh- và các tiếng mẹ đẻ khác nhau; chiến lược giáo dục vừa đại trà phổ cập vừa khuyến khích, chọn lựa và đào tạo nhân tài.
- Đảng PAP lãnh đạo thông qua những đảng viên nắm giữ các trọng trách trong bộ máy nhà nước. Đảng không có bộ máy song hành với chính quyền, nhưng có cơ cấu hai cấp rất hiệu quả. Ở cấp lãnh đạo, đó là những đảng viên trong sạch có tầm nhìn và có khả năng lãnh đạo;  ở cấp cơ sở là những đảng viên tận tụy gắn bó với người dân, chuyển tải những tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu của dân. Các đảng viên nắm trọng trách, kể từ nghị sĩ trở lên hàng tháng đều phải tự đi tiếp xúc cử tri ở khu vực bầu cử của mình.
- Đảng quy định cụ thể những gì đảng viên không được làm, đặc biệt không được lạm dụng chức quyền để mưu lợi các nhân  hay cho người thân. Ngày nay, trong bộ máy nhà nước của Xin-ga-po do PAP lãnh đạo -kể từ các nhà chính trị cho đến các công chức-  không hề có “chạy chức, chạy quyền, chạy án, chạy lợi” và không có cán bộ, đặc biệt ở cấp quyết định, thiếu năng lực hay trốn tránh trách nhiệm.
- Các nghị sĩ, bộ trưởng thuộc PAP là những người có năng lực, liêm khiết, gương mẫu, tận tụy với công việc, đi sâu đi sát quần chúng.
- Tách chính trị ra khỏi bộ máy công quyền. Cán bộ được tuyển chọn và đánh giá chỉ theo tài năng và đạo đức nghề nghiệp. Nhưng không vì thế mà công chức hay  người dân Xin-ga-po thờ ơ với chính trị và đặc biệt đối với đảng PAP.

2.7. Tính độc đáo của hệ thống.

Hệ thống chính trị của Xin-ga-po cũng được xây dựng trên cơ sở hình thành ba cơ quan quyền lực độc lập nhau : lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng nó mang những sắc thái riêng của một quốc gia đặc thù như Xin-ga-po. 
- Về phương thức vận hành bộ máy nhà nước, quyền điều hành công việc quốc gia tập trung vào Thủ tướng và chính phủ. Tổng thống chủ yếu là đại diện quốc gia về mặt ngoại giao và biểu tượng của sự thống nhất quốc gia. Quốc hội làm luật và giám sát chính phủ theo những gì Hiến pháp quy định. Quốc hội bỏ phiếu thông qua và quyết tóan ngân sách. Theo luật pháp của Xin-ga-po, ngân sách hàng năm có thể thâm hụt, nhưng cả nhiệm kỳ Quốc hội thì phải cân bằng. Nghị sĩ có thể chất vấn chính phủ về mọi chính sách và biện pháp do chính phủ đưa ra. Hình thái tổ chức nhà nước này cho phép tránh được sự cồng kềnh, chồng chéo của bộ máy và tập trung quyền lực và trách nhiệm vào Thủ tướng và chính phủ.
- Hệ thống này mang đậm nét một nhà nước đa sắc tộc và đa tôn giáo. Xin-ga-po  là quốc gia trong đó người Hoa chiếm đa số (gần 80% dân số), nhưng lại chọn văn hóa Mãlai và  tiếng Mãlai làm chính thống. Để  đảm bảo sự hài hòa về mọi mặt trong xã hội, ngoài các đạo luật và quy định hành chính ngặt nghèo trấn át mọi hành vi phân biệt sắc tộc và tôn giáo, Xin-ga-po còn lập ra các thể chế đặc thù. Đó là Hội đồng  Tổng thống về các Quyền thiểu số, các Khu vực bầu cử theo Đại diện Cộng đồng.  Do phe đối lập quá yếu và để cho thể thức dân chủ đa đảng hoạt động thực chất, Hiến pháp Xin-ga-po quy định trong Quốc hội có 01 nghị sĩ lựa chọn đại diện cho phe đối lập và 09 nghị sĩ chỉ định đại diện cho các khuynh hướng  tư tưởng khác nhau trong xã hội.
- Xin-ga-po theo chế độ dân chủ đa đảng, nhưng không phải là mô hình dân chủ Âu-Mỹ. Chính ông Lý Quang Diệu  đã nói các nước đang phát triển nên học mô hình phát triển kinh tế thị trường của các nước phương Tây, nhưng đừng áp dụng hình thái dân chủ của họ. Vậy dân chủ của Xin-ga-po là gì ? Đó là nền dân chủ đại nghị đa đảng với những quy định khắt khe về các quyền dân chủ, đi đôi với việc thực hiện dân chủ trực tiếp. Có lẽ Xin-ga-po là một trong những nước mà người lãnh đạo gần gũi và đi sâu đi sát quần chúng nhất. Hàng tháng bộ trưởng và nghị sĩ  phải đi tiếp xúc cử tri theo phương thức tự đến gặp cử tri và ghi nhận và yêu cầu chính phủ giải quyết các vấn đề do cử tri nêu lên, chứ không phải mời đại diện cử tri  đến để nghe  “huấn thị”. Mọi chính sách của chính phủ  liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của  người dân đều được đưa ra tranh luận thẳng thắn trên nhiều diễn đàn trước khi được quyết định. Ví dụ gần đây nhất là dự án  xây dựng hai khu liên hợp giải trí sòng bạc liên hợp ở Xin-ga-po. Cả nước Xin-ga-po tranh luận  suốt cả năm 2004 về  cái lợi và cái hại của việc mở sòng bạc trước khi chính phủ quyết định.
- Dân chủ trực tiếp còn thể hiện qua việc thành lập các tổ chức xã hội tự quản và tự nguyện ở các quận và khu phố. Đây chính là những  “chân rết” nhằm duy trì sự hài hòa và an toàn xã hội, cũng như việc thực thi pháp luật của nhà nước và chính sách của chính phủ. Đồng thời, đó cũng là phương thức duy trì việc nắm quyền của đảng PAP. Các nghị sĩ và bộ trưởng cùng với các cán bộ cơ sở của PAP đóng vai trò nòng cốt và hạt nhân. Bệnh  “chỉ tay năm ngón”, “đợi dân đến cầu cạnh lãnh đạo” và  “cán bộ cấp trên cho ý ‎ kiến chỉ đạo” hoàn toàn xa lạ trong bộ máy chính quyền Xin-ga-po. Mọi nhà chính trị cũng như công chức đúng là  “công bộc” của dân.
- Chế độ bộ trưởng kép. Một người có thể được bổ nhiệm là bộ trưởng chính  một bộ, đồng thời kiêm nhiệm chức vụ bộ trưởng thứ hai ở bộ khác. Các bộ trưởng đặc cách hay quốc vụ khanh (Ministers of State) cũng vậy. Chế độ bổ nhiệm này được áp dụng cho cả công chức cao cấp, đặc biệt là Thư k‎ý  Thưởng trực bộ (Permanent Secretary).
- Vấn đề ngôn ngữ. Sau khi tách khỏi Ma-lai-xia, Xin-ga-po vẫn duy trì hệ thống giáo dục theo tiếng mẹ đẻ : người Hoa học trường Hoa, người Mãlai học trường Mãlai và người Ấn Độ  học trường Ấn Độ. Tình trạng này dẫn đến sự chia rẽ sắc tộc sâu sắc và rất nhiều người Xin-ga-po gốc Hoa không tìm được việc làm vì không biết tiếng Anh. Đó là chưa kể đến việc bên ngoài lợi dụng tình trạng này để can thiệp vào công việc nội bộ của Xin-ga-po. Đối mặt với một cuộc khủng hoảng xã hội sâu sắc, đe dọa sự tồn vong của nước Cộng hòa, ông Lý Quang Diệu đã đưa ra một quyết định táo bạo: áp đặt tiếng Anh là tiếng giảng dạy và học tập  trong hệ thống giáo dục của Xin-ga-po và tiếng mẹ đẻ : Hoa, Mãlai và Tamil  được dạy như các môn học khác. Quyết định này không chỉ mang tính chất chuyên môn mà có ý nghĩa chính trị đặc biệt. Nó đã xóa bỏ sự ngăn cách sắc tộc trong các trường học, ngăn chặn được cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng và tiếng Anh vô hình chung trở thành một công cụ góp phần làm  hình thành lên ý thức quốc gia và bản sắc dân tộc của Xin-ga-po.

2.8. Tính kế thừa.

Mặc dù tiến hành đấu tranh giành độc lập nhằm thoát khỏi sự thống trị của thực dân Anh, các nhà lãnh đạo Xin-ga-po đã biết tiếp thu có kế thừa và chọn lọc bộ máy quản l‎ý  thực dân. Điều này bởi vì họ hiểu rằng muốn phá bỏ cái cũ thì phải có cái mới để  xây dựng trong khi mà lúc đó Xin-ga-po chưa có gì để thay thế. Ngay bản thân ông Lý Quang Diệu  đã từng khẳng định rằng Xin-ga-po đã thừa hưởng được bộ máy hành chính và hệ thông pháp l‎ý do người Anh để lại. Trên thực tế, cho đến nay, từ cách tổ chức bộ máy hành chính, phương thức quản l‎ý, hệ thống luật pháp cho đến hệ thống giáo dục, Xin-ga-po vẫn áp dụng và duy trì hệ thống Anh.  Hơn nữa, quyết định đầy sáng suốt của ông Lý Quang Diệu  liên quan đến việc sử dụng tiếng Anh -một sản phẩm của chủ nghĩa thực dân- là ngôn ngữ giao tiếp trong bộ máy hành chính và là  ngôn ngữ giảng dạy và học tập trong hệ thống đào tạo từ mẫu giáo đến trường đại học đã biến Xin-ga-po thành nước châu Á duy nhất sử dụng tiếng Anh.

2.9. Vai trò cá nhân của lãnh tụ.

Đó là vai trò của ông Lý Quang Diệu và các cộng sự như ông Rajaratnam  được coi là nhà tư tưởng và Tiến sĩ Goh Keng Swee được mệnh danh là nhà kinh tế. Tất cả mọi người dân Xin-ga-po, kể cả những người  coi ông Lý Quang Diệu là độc tài đều phải thừa nhận rằng sự ra đời và lớn mạnh của Xin-ga-po gắn liền với công lao của ông  Lý Quang Diệu. Ông không chỉ là người sáng lập ra Cộng hòa Xin-ga-po mà còn là người đưa ra những quyết định táo bạo và sáng suốt ở những thời điểm sống còn: quyết định tách khỏi Ma-lai-xia, quyết định lựa chọn con đường phát triển, xây dựng hệ thống chính trị, hình thành lên chính sách đối ngoại tự chủ và hội nhập, quyết định sử dụng tiếng Anh...
 Cần nhấn mạnh thêm rằng vai trò lãnh tụ tối cao ở Xin-ga-po không dẫn đến võ đoán và thiển cận. Đồng thời, lãnh đạo theo ê kíp không thủ tiêu trách nhiệm cá nhân. Ông  Lý Quang Diệu đã biết thể hiện quyền quyết đoán cuả mình trên cơ sở lắng nghe ý  kiến của cộng sự. Ngược lại, các cộng sự đã dám bày tỏ ý  kiến riêng của mình đôi khi mâu thuẫn với ý đồ của lãnh tụ, đồng thời tự chịu trách nhiệm cá nhân trong lĩnh vực mình được giao. Ông Lý Quang Diệu là một nhà lãnh đạo có tầm, có tài và quyết đoán. Song, thiên tài là ở chỗ ông đã nắm bắt được xu thế của thời cuộc, thấu hiểu thế giới mà nhân loại đang sống và đặt Xin-ga-po  đúng vào chỗ đắc địa của thế giới bằng việc lựa chọn chiến lược phát triển  độc đáo cho Xin-ga-po. “Để phát triển, một nước cần kỷ cương hơn dân chủ theo kiểu phương Tây” . Câu nói nổi tiếng này và những lời kết được viết ra sau hai tập hồi k‎ý của ông đáng để mọi người suy nghĩ :
“Tương lai tràn trề hứa hẹn, nhưng cũng ẩn chứa những khôn lường. Xã hội công nghiệp mở đường cho một xã hội tri thức. Thế giới có thể bị phân chia giữa những nước có tri thức và những nước không có tri thức. Chúng ta cần phải học để thuộc về phần thế giới có tri thức. Những gì chúng ta thành công trong ba thập kỷ qua không có gì đảm bảo để cho chúng ta  cũng thành công như vậy trong tương lai. Nhưng chúng ta sẽ không bị thất bại nếu chúng ta vẫn tiếp tục hành động theo nguyên tắc cơ bản đã giúp chúng ta thành công: sự gắn kết xã hội trên cơ sở chia sẻ những thành tựu của tiến bộ; cơ may cho tất cả mọi người và tiêu chí toàn tài trong việc lựa chọn những người phù hợp nhất cho từng công việc, đặc biệt những người lãnh đạo trong chính phủ”. 

3. Những mốc thời gian đáng ghi nhớ.

9 - 5 - 1965 :   Xin-ga-po tách khỏi Ma-lai-xia và trở thành « một quốc gia độc lập, chủ quyền và dân chủ ».
21 - 9 – 1965 :     Xin-ga-po  trở thành thành viên thứ 117 của Liên hợp quốc.
22 – 12 – 1965 : Sửa đổi Hiến pháp và Xin-ga-po trở thành nước Cộng hòa Xin-ga-po, ông Yusof bin Ishak là tổng thống đầu tiên.
14 – 3 – 1967 :   Luật Nghĩa vụ Quân sự sửa đổi quy định chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc đối với mọi công dân nam giới từ 18 tuổi trở lên.
12 – 6 - 1967 :    Xin-ga-po phát hành đồng tiền riêng.
8 – 8 – 1967 :    Xin-ga-po tham gia thành lập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
1970 :          Thành lập Cơ quan Tiền tệ Xin-ga-po ( Monetary Authority of Singapore- MAS).
31 – 10 – 1971 : Bộ Tư lệnh Viễn Đông của Anh chấm dứt hoạt động và rút khỏi Xin-ga-po.
5 – 1973 :           Chấm dứt chế độ chuyển đổi tiền tệ tự động với Ma-lai-xia.
3 – 9 – 1976 :    Sửa đổi Luật về Nghị sĩ Quốc hội nâng số lượng ghế từ 65 lên 69.
29 – 7 – 1980 :  Sửa đổi Luật về Nghị sĩ Quốc hội nâng số lượng ghế từ 69 lên 75.
22  – 8 –1984 : Sửa đổi Luật bầu cử quốc hội quy định có nghị sĩ lựa chọn (Non-constituencies Member of Parliament-NCMPs).
 1 – 6 – 1988 :   Sửa đổi Luật Bầu cử  quy định thành lập 14 Khu vực bầu cử theo Đại diện Cộng đồng (Group Representation constituencies –PRCs).
10 – 9 – 1990 : Sửa đổi Hiến pháp quy định có nghị sĩ chỉ định (Nomimated Member of Parliament –NMPs).
28 –11 –1990 : Ông Goh Chok Tong trở thành Thủ tướng thay ông Lý Quang  Diệu.
30 – 11 – 1991 :  Sửa đổi Hiến pháp quy định bầu cử Tổng thống trực tiếp.
1 – 9 – 1993 :    Ông Ong Teng Cheong  là Tổng thống đầu tiên được bầu trực tiếp.
2 – 1 – 1997 :    Bầu cử Quốc hội, các đảng đối lập giành được 2 ghế.
1 – 9 – 1999 :    Ông S R Nathan được bầu làm Tổng thống.
11 – 2001 :        Bầu cử Quốc hội, PAP giành được 75,3 %  .
12- 8 – 2004 :   Ông Lý Hiển Long lên làm Thủ tướng thay ông Goh Chok Tong.
1 – 9 – 2005 :   Ông S R Nathan tái đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ hai.
16 –5 –2006 :   Bầu cử Quốc hội, PAP giành được 66,6 % .

Chương Ba

Quan hệ Xin-ga-po -Việt Nam.

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã quyết định chiến lược đổi mới chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và  thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Xin-ga-po là nước sớm nắm bắt được sự chuyển hướng chiến lược này của Việt Nam và các công ty của họ đã nhanh chóng vào Việt Nam để tìm cơ hội làm ăn.
Tại Diễn đàn Kinh tế Davos, Thụy sĩ năm 1990, Phó thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó đã gặp Thủ tướng Xin-ga-po Lý Quang Diệu. Hai bên đã bàn đến việc nối lại quan hệ kinh tế bị gián đoạn từ năm 1978. Tháng 10 năm 1991, Hiệp định Paris về Cam-pu-chia được ký kết; chuyến thăm chính thức Xin-ga-po của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tháng 11 năm 1991 đã mở ra thời kỳ phát triển quan hệ toàn diện  giữa hai nước dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau và cùng có lợi.

1. Quan hệ chính trị.

Kể từ năm 1991, hầu như năm nào lãnh đạo cấp cao hai nước đều thăm viếng nhau và trao đổi đoàn từ cấp thứ trưởng diễn ra thường xuyên. Mặc dù Xin-ga-po nổi tiếng là thực dụng trong quan hệ quốc tế, cả hai bên đều nhận thấy cần đẩy mạnh quan hệ chính trị để làm cơ sở cho các mối quan hệ khác. Sau đây là những nét chính của quan hệ chính trị.
- Trong thập niên 90, các cuộc viếng thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước chủ yếu nhằm mục đích  tăng cường hiểu biết và xây dựng lòng tin  sau nhiều thập kỷ đối đầu  căng thẳng.
- Chiến tranh lạnh kết thúc, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập khu vực trở thành một trong những xu thế cơ bản trong quan hệ quốc tế. Trong bối cảnh mới đó, cả Việt Nam và Xin-ga-po đều nhận thấy một khả năng tập hợp lực lượng mới đang hình thành giữa các nước trong khu vực nhằm đối phó với những thách thức mới. Sự khác biệt  trong nhận thức về khu vực và thế giới giữa các nước ASEAN cũ và ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia  dần dần được thu hẹp. Câu nói nổi tiếng của thủ tướng Thái Lan “biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” đã trở thành phương châm hành động của cả hai phía.
- Tháng 7 năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN, đánh dấu một bước ngoặt  quan trọng  trong  quan hệ quốc tế ở khu vực. Sự kiện này không chỉ xóa bỏ sự nghi kỵ giữa Việt Nam và các nước ASEAN cũ, mà nhất là nó còn chứng tỏ sự thay đổi cơ bản về tính chất của quan hệ quốc tế trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Lợi ích dân tộc và sự gần gũi về địa l‎ý đã giúp cho các nước vượt qua các khác biệt  để cùng phát huy vai trò và lợi thế  của một tổ chức khu vực trong quan hệ với các nước khác, đặc biệt với các nước lớn. Việc ASEAN mở rộng và bao gồm cả 10 nước trong khu vực năm 1998 là minh chứng cho sự thay đổi  hoàn toàn tư duy về quan hệ quốc tế. Lối lập luận theo bạn thù và nặng về ý thức hệ đã nhường chỗ cho tư duy mới về tập hợp lực lượng. Đó là các nước trong khu vực, mặc dù khác nhau về hệ thống chính trị và xã hội, vẫn có thể tập hợp nhau lại trong một cơ chế khu vực vì lợi ích của mỗi nước và đồng thời vì lợi ích của cả hiệp hội.
- Bước vào thế kỷ XXI, tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng diễn ra nhanh chóng. Xin-ga-po là nước chủ trương đẩy nhanh quá trình liên kết ASEAN vừa vì lợi ích riêng vừa muốn giữ được vai trò chủ đạo của ASEAN trong quan hệ quốc tế tại khu vực. Về phần mình, Việt Nam cũng thấy hội nhập khu vực là ưu tiên hàng đầu trong “đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển” và  “chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam là  bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình  hội nhập quốc tế và khu vực”.  Trong bối cảnh đó, hai nước tăng cường trao đổi đoàn cấp cao và giữa các bộ Ngoại giao, Công an  và Quốc phòng; quan hệ hai nước ngày càng phát triển toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu theo tình thần cùng có lợi và vì lợi ích chung của cả ASEAN
- Việc hai nước quyết định miễn thị thực cho công dân của nhau tháng 12 năm 2003 mang một ‎ý nghĩa chính trị to lớn không những tác động đến các nước trong khu vực, mà cả các nước khác quan tâm đến Đông Nam Á. Đồng thời quyết định này cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ  kinh tế và du lịch giữa hai nước.
- Bắt đầu từ năm 2003, hai nước tiến hành tham khảo thường niên cấp thứ trưởng ngoại giao. Đặc biệt, trong chuyến thăm làm việc của Thủ tướng Phan Văn Khải  tháng 3 năm 2004, hai bộ trưởng Ngoại giao đã thay mặt chính phủ hai nước k‎ý “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21”. Văn kiện quan trọng này là cơ sở pháp l‎ý và chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.
- Thách thức lớn nhất không chỉ đối với quan hệ Việt Nam - Xin-ga-po mà cả quan hệ giữa các nước ASEAN là phải biết kết hợp hài hòa, hợp l‎ý và hào hiệp giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của cả Hiệp hội và của các thành viên khác trước những cám dỗ và sức ép từ bên ngoài, nhất là từ các nước lớn. Tư tưởng “mạnh ai nấy quan hệ” với các nước ngoài khối có nguy cơ chia rẽ và làm suy yếu ASEAN và nếu không cảnh giác có thể làm mất vai trò chủ đạo của Hiệp hội trong quan hệ quốc tế ở khu vực. Đẩy nhanh tiến trình hội nhập ASEAN là điều cần thiết, nhưng tư tưởng “phá rào”, “đánh lẻ” dù xuất phát từ nước nào thì đúng là có lợi trước mắt, còn về lâu dài sẽ làm xói mòn lòng tin của các nước khác đối với hiệp hội. Ngược lại, chùng chình, làm chậm tiến trình hội nhập của cả Hiệp hội sẽ làm mất thời cơ và ảnh hưởng đến lợi ích của cả khối.

2. Quan  hệ kinh tế.

Việt nam được xác định là thị trường lâu dài cả về đầu tư và thương mại của Xin-ga-po vì Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi, nền kinh tế tăng trưởng cao và đều đặn trong một đất nước ổn định cả về chính trị và xã hội. Xin-ga-po khuyến khích các công ty của họ sớm vào Việt Nam và tìm cơ hội kinh doanh lâu dài trong những lĩnh vực mà họ có lợi thế cạnh tranh và Việt Nam có nhu cầu phát triển. Phía Việt Nam cũng tính đến đặc thù quan hệ giữa hai nước và dành ưu tiên cho những dự án đầu tư có hiệu quả từ phía Xin-ga-po, dựa trên lợi ích của hai bên và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam.
Từ tư tưởng chỉ đạo trên, kể từ đầu thập niên 90 đến nay. Xin-ga-po luôn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài và bạn hàng lớn nhất của Việt Nam. Đầu tư trực tiếp (FDI) của Xin-ga-po vào Việt Nam có nhiều nét đặc trưng, khác với các đối tác khác. Thứ nhất là đa số các dự án đều có quy mô và vốn lớn. Điều này  chứng tỏ các công ty Xin-ga-po muốn làm ăn lâu dài ở Việt Nam. Thứ hai là định hướng đầu tư khá rõ ràng đi từ dịch vụ du lịch, khách sạn sang sản xuất và sau đó, chú trọng nhiều đến dịch vụ viễn thông, hậu cần (logistics) ngân hàng và tài chính, phù hợp với tiến trình mở cửa và cải cách kinh tế của Việt Nam. Thứ ba là nhiều các tập đoàn lớn của Xin-ga-po đều có dự án đầu tư ở Việt Nam. Thứ tư là Xin-ga-po có sáng kiến đầu tư tay ba ở Việt Nam. Tính đến tháng 8 năm 2006, Xin-ga-po đã đầu tư vào Việt Nam 7,80 tỷ USD với 425 dự án.
Tháng 5 năm 1996, Thủ tướng Xin-ga-po Goh Chok Tong thăm Việt Nam và khai trương Khu công nghiệp Việt Nam - Xin-ga-po tại tỉnh Bình Dương (VSIP). Cho đến nay, VSIP được đánh giá là dự án thành công nhất trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước và là một trong những khu công nghiệp thành công nhất mà Xin-ga-po hợp tác xây dựng ở nước ngoài. Phía Việt Nam muốn Xin-ga-po giúp nhân rộng mô hình này ở các địa phương khác. Trong buổi lễ kỷ niệm 10 năm thành lập VSIP, cả hai Thủ tướng Việt Nam và Xin-ga-po đều khẳng định VSIP là hình mẫu của sự hợp tác lâu dài và cùng có lợi giữa hai nước. Cho đến thời điểm đó, VSIP đã thu hút 235 dự án với 1,5 tỷ USD vốn đầu tư và sử dụng 40.000 nghìn lao động.
Quan hệ thương mại Việt Nam - Xin-ga-po phát triển và tăng điều đặn trong nhưng năm gần đây: năm 2003 là 5,4061 tỷ SGD, năm 2004: 5,9793 tỷ SGD, năm 2004: 7,7354 tỷ SGD và năm 2005: 10,3895 tỷ SGD. Việt Nam nhập khẩu từ Xin-ga-po chủ yếu là xăng dầu, máy móc thiết bị, nguyên liệu thuốc lá, phân bón, hàng điện, điện tử và thiết bị văn phòng.  Việt Nam xuất khẩu sang Xin-ga-po chủ yếu là dầu thô, cà phê, gạo, hải sản, hàng dệt may. Việt Nam luôn  nhập siêu đối với Xin-ga-po. Trước mắt, tình hình này khó có khả năng được cải thiện vì những mặt hàng ví dụ như nông sản mà ta có có khả năng xuất  khẩu thì thường bị cạnh tranh rất mạnh từ phía Thái Lan và Ma-lai-xia trong khi đó  thị trường tiêu thụ nội địa  của Xin-ga-po lại nhỏ bé.
Để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đầu tư và thương mại tại Việt Nam và hỗ trợ các doanh nghiệp Xin-ga-po, Ban Quốc tế Doanh nghiệp, Ban du lịch Xin-ga-po đã mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2004, nhận thấy cơ hội đầu tư trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam, tập đoàn tài chính Temasek Holdings cũng mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 3 năm 2005, được sự hỗ trợ của Ban Quốc tế Doanh nghiệp Xin-ga-po, thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương Nhà Việt Nam (Vietnam House) tại Xin-ga-po. Nhiệm vụ của Nhà Việt Nam là giúp đỡ các doanh nghiệp ở các tỉnh phía nam thâm nhập thị trường Xin-ga-po và  thu hút  các công ty Xin-ga-po vào làm ăn tại Việt Nam.
Tháng 3 năm 2003, Thủ tướng Goh Chok Tong tiến hành chuyến thăm làm việc tại Việt Nam. Trước những cơ hội làm ăn mới và nhằm tăng cường thêm khả năng kinh doanh cho các doanh nghiệp Xin-ga-po và thu hút thêm FDI vào Việt Nam, hai Thủ tướng đã đưa ra Sáng kiến chung Việt Nam - Xin-ga-po về hợp tác  đầu tư. Để thực hiện sáng kiến này, Bản ghi nhớ về hợp tác đầu tư đã được k‎ý kết tháng 10 năm 2003 với mục tiêu “ xúc tiến và thúc đẩy đầu tư trực tiếp từ nước thứ ba vào Việt Nam và Xin-ga-po và nâng cao sức cạnh tranh và lợi thế của mỗi nước”. Hai bên thỏa thuận thành lập Ban Chỉ đạo chung và Nhóm công tác để triển khai sáng kiến trên. Đây là một hình thức xúc tiến đầu tư mới theo đó hai bên cùng thống nhất chọn những dự án trong các lĩnh vực ưu tiên để được hưởng cơ chế chấp thuận nhanh. Sáng kiến này tỏ ta có hiệu quả và cứ 6 tháng một lần, Ủy ban Chỉ đạo lại họp để kiểm điểm việc thực hiện sáng kiến.
Trong chuyến thăm làm việc của Thủ tướng Phan Văn Khải  tại Xin-ga-po tháng 3 năm 2004, Thủ tướng  hai nước đã nhất trí đưa ra một sáng kiến mới quan trọng hơn nữa. Đó là sáng kiến kết nối hai nền kinh tế nhằm phát huy mọi  thế mạnh  của hai nước. Xin-ga-po có cơ sở hạ tầng hiện đại, hệ thống dịch vụ và hậu cần chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, có vốn, kỹ  thuật và kinh nghiệm quản l‎ý, là  nơi đặt trụ sở của 9.000 công ty đa quốc gia và được kết nối toàn cầu. Việt Nam có thế mạnh về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực dồi dào, thị trường lớn. Để phát triển nhanh, Việt Nam cần tận dụng những thế mạnh của Xin-ga-po. Sau khi được kết nối, hai nền kinh tế có điều kiện tốt nhất để thu hút đầu tư nước ngoài.
Sau hơn một năm đàm phán, ngày 05 tháng 12 năm 2005, Hiệp định Khung kết nối Việt Nam-Xin-ga-po đã được k‎ý kết tại Xin-ga-po. Hiệp định bao gồm 6 lĩnh vực kết nối: đầu tư(1), thương mại và dịch vụ(2), công nghệ thông tin-truyền thông(3), tài chính(4), giao thông(5) và giáo dục-đào tạo(6). Theo đánh giá của hai bên, Hiệp định khung “mang ý nghĩa lịch sử củng cố hơn nữa quan hệ giữa hai nước”. Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó, sau khi chứng kiến lễ ký, đã nhấn mạnh rằng Hiệp định kết nối không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam và Xin-ga-po, mà còn tác động đến cả khu vực. Đối với riêng Việt Nam, văn kiện này sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam đẩy nhanh quá trình hội nhập và duy trì sự phát triển bền vững với mức tăng trưởng cao.
Sau sự kiện này, Các doanh nghiệp Xin-ga-po  có phần “phấn khích” về cơ hội làm ăn ở Việt Nam. Trước sự lớn mạnh và khả năng cạnh tranh kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ cũng như trong bối cảnh tiến trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, họ mong muốn Việt Nam  “mạnh bạo” đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cải cách kinh tế  và cùng họ thúc đẩy tiến trình hội nhập ASEAN. Họ đánh giá Việt Nam thực sự cần phát triển và có hướng đi đúng và Việt Nam  thực sự muốn ASEAN lớn mạnh, phù hợp với tính toán và lợi ích của họ. Trong ASEAN, Việt Nam là thị trường mới dễ làm ăn so với các thành viên cũ  và có nhiều cơ hội làm ăn hơn so với các thành viên mới.

3. Hợp tác giáo dục và đào tạo.

Từ năm 1992, Xin-ga-po lập ra Chương trình hợp tác Xin-ga-po  (SCP) do Vụ Hợp tác kỹ thuật thuộc bộ Ngoại giao quản l‎ý. SCP được nhìn nhận là “phương thức qua đó Xin-ga-po muốn chia sẻ với các nước đang phát triển những kỹ năng công nghệ và hệ thống mà Xin-ga-po đã học và thu nhận được trong những năm phát triển”. Triết l‎ý  của SCP là “cho ai con cá thì họ sẽ ăn hết ngay trong ngày.  Giúp ai cách câu cá thì họ có cái ăn cả đời”. Cho đến năm 2006, Xin-ga-po đã nhận đào tạo được 42.000 người từ 162 nước trong đó có Việt Nam.
Phương tiện dành cho hợp tác kỹ thuật xuất phát từ hai nguồn:
- Ngân sách của Xin-ga-po.
- Tài trợ từ nước thứ ba. 
- Chương trình trợ giúp gồm 5 loại hình: 
- Chương trình Song phương.
- Chương trình Đào tạo với Nước Thứ ba (TCTP).
- Sáng kiến Hội nhập ASEAN (IAI).
- Thăm quan khảo cứu.
- Chương trình học bổng Xin-ga-po dành cho các nước  ASEAN.
Ngay sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào đầu những năm 90 thế kỷ trước, Xin-ga-po đã quan tâm đến hợp tác giáo dục và đào tạo với Việt Nam và  Việt Nam tham gia cả 5 chương trình hợp tác giáo dục kể trên. Tính đến  năm 2006, đã có 2.500 người Việt Nam  tham dự các hình thức đào tạo khác nhau do Xin-ga-po trợ giúp. Năm 1996, Khu Công nghiệp Việt Nam - Xin-ga-po được thành lập tại tỉnh Bình Dương (VSIP). Nhằm đào tạo nhân lực tại chỗ cho VSIP, Xin-ga-po đã giúp Việt Nam thành lập  Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật  Việt Nam - Xin-ga-po (VSTTC) trực thuộc VSIP.  Chương trình và nội dung đào tạo tại VSTTC gần giống với Viện Giáo dục kỹ thuật (ITE) ở Xin-ga-po. Hiệu quả đầu tư vào VSTTC là rất cao và Việt Nam muốn Xin-ga-po tiếp tục trợ giúp về tài chính và chuyên môn cho  VSTTC.
Sau khi ASEAN trở thành 10 nước, Xin-ga-po thấy cần phải thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên cũ và mới thì mới đẩy mạnh được tiến trình hội nhập ASEAN. Do vậy, tại Hội nghị Cấp cao không chính thức họp ở Xin-ga-po năm 2000, Xin-ga-po đưa ra Sáng kiến Hội nhập ASEAN (IAI). Trong khuôn khổ sáng kiến này, tháng 2 năm 2003, hai nước đã thành lập tại Hà Nội Trung tâm Đào tạo Việt Nam - Xin-ga-po (VSTC). Nhiệm vụ của VSTC là “mở các lớp đào tạo, tập huấn và hội thảo cho cán bộ Việt Nam  về các lĩnh vực do hai bên cùng xác định và lựa chọn”. Cho đến nay, hàng trăm cán bộ đã qua các lớp đào tạo và tập huấn do VSTC tổ chức. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN  X họp tại Viên Chăn năm 2005, Xin-ga-po  tuyên bố bổ sung thêm  28,9 triệu SGD cho IAI nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa việc đào tạo cán bộ quản l‎ý  cho bốn nước thành viên mới.
Nhờ Chương trình học bổng Xin-ga-po dành cho các nước ASEAN, hàng trăm học sinh và sinh viên Việt Nam hiện đang học tập tại một số trường Trung học và ba trường đại học công lập Xin-ga-po. Bên cạnh đó, hàng nghìn sinh viên Việt Nam đang học theo chế độ tự túc tại các cơ sở đào tạo đại học tư nhân của Xin-ga-po, kết hợp với các trường đại học của Mỹ, Anh và Australia.
 Nhìn chung lại, hợp tác giáo dục và đào tạo với Xin-ga-po là rất hiệu quả, góp phần giúp Việt Nam phát triển nhân lực cần thiết cho chiến lược phát triển quốc gia trong gia đoạn mới. Song, bên cạnh đó cũng có những chuỵên không thành công mà điển hình là vụ đầu tư lừa đảo mở các trung tâm dạy tiếng Anh dưới cái tên trường SITC của Michael Yu năm 2005. Đồng thời từ lâu  nay, cũng  xuất hiện tâm l‎ý  ngộ nhận trong một số gia đình Việt Nam về việc cho  con du học ở nước ngoài, trước hết là ở Xin-ga-po. Họ nghĩ rằng cứ cho con đi nước ngoài là thành tài không cần biết con mình học ở trường nào, học ngành gì và có học thực sự không. Cho đến nay, không ít sinh viên Việt Nam theo học chế độ tự túc tại Xin-ga-po bị buộc về nước do không có khả năng học hay bỏ học quá  nhiều.

4. Hợp tác du lịch.

Xin-ga-po là một đất nước thu hút du lịch mạnh nhất Đông nam Á. Năm 2006, có 9 triệu lượt người đến Xin-ga-po. Số tiền mà khách du lịch chi tiêu ở Xin-ga-po  khoảng 5 tỷ SGD và tỷ lệ thuê giữ phòng khách sạn luôn đạt trên 80%.
Xin-ga-po là một trong  những điểm đến ưa thích của công dân Việt Nam khi chọn đị du lịch ở nước ngoài và Việt Nam cũng là sự lựa chọn đối với khách du lịch nước ngoài đến Xin-ga-po muốn đi tiếp đến một nước khác. Việt Nam và Xin-ga-po k‎ý Hiệp định hợp tác du lịch năm 1994. Tháng 12 năm 2003, Việt Nam và Xin-ga-po quyết định miễn thị thực cho công dân hai nước trong vòng 4 tuần.  Biên pháp này đã làm cho số lượng người Việt Nam du lịch sang Xin-ga-po tăng đột biến. Năm 2001 có 32.110 người, năm 2002 có 35.261 người và năm 2005 có 150.611 người, tăng 42% so với năm 2004.
Ban Du lịch Xin-ga-po (STB) đã mở Văn phòng Đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là cơ quan du lịch nhà nước nước ngoài đầu tiên được cấp phép  đặt văn phòng tạiViệt Nam.
Bên cạnh hợp tác song phương, hai nước còn tiến hành hợp tác đa phương về du lịch trong khuôn khổ ASEAN.

5. Hợp tác giao thông vận tải.

Xin-ga-po có hai thế mạnh: cảng biển và cảng hàng không. Hai nước đã k‎ý Hiệp định hàng không và hàng hải năm 1992.
Xin-ga-po là nước đi đầu trong chiến lược “bầu trời mở rộng” và rất muốn Việt Nam sớm tham gia. Xin-ga-po là một quốc gia, nhưng trên thực tế chỉ là một thành phố, không có đường bay nội địa. Triển khai chiến lược “bầu trời mở rộng” không hề ảnh hưởng đến vận tải hàng không, cũng như hoạt động của Hàng hàng không Xin-ga-po (SIA). Cho đến  nay, đã có Thái Lan và Brunei k‎‎ý  kết hiệp định “bầu trời mở rộng” về vận tải hàng hóa với Xin-ga-po. Xét dưới nhiều góc độ, ta chưa thể tham gia được chiến lược “bầu trời mở rộng”.
Hậu cần cũng là một trong 6 lĩnh vực được xác định trong Hiệp định Kết nối mà hai nước đã k‎ý kết tháng 12 năm 2005. Nội dung kết nối giao thông vận tải bao gồm ba phần: (1) kết nối hàng không; (2) kết nối vận tải biển; (3) kết nối vận tải bộ. Chắc chắn quan hệ song phương trong lĩnh vực này sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới.

6. Hợp tác Bưu chính viễn thông.

Hai bên đã trao đổi các dịch vụ bưu chính như bưu phẩm thường, bưu phẩm ghi số, bưu kiện, phát chuyển nhanh, dịch vụ chuyển tiền.
Hai nước đã hợp tác xây dựng và khai thác tuyến thông tin cáp quang biển trực tiếp Việt Nam - Xin-ga-po  thuộc hệ thống cáp biển SWM3 dài gần 3000 km. Với hệ thống này, hai nước đã tăng cường  trao đổi lưu lượng internet, cung cấp dịch vụ Business IP và Frame Relay.
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là một trong sáu lĩnh vực kết nối giữa hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực này gồm ba phần: (1) thăm quan nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm; (2) triển khai Chính phủ điện tử; (3) thúc đẩy thương mại và đầu tư trong lĩnh vực ICT.
Với việc hiệp định kết nối được k‎ý  kết, các công ty lớn của Xin-ga-po về ICT sẽ có điều kiện thuận lợi để mua cổ phần hay tham gia liên doanh vào thị trường bưu chính viễn thông của Việt Nam, một thị trường lớn và có nhiều hứa hẹn.